Phapluatnet - Tin tức pháp luật 24h, thời sự mới nhất, nóng nhất

Vụ học sinh cấp 2 chửi bới đốt xe: Xử lý như thế nào?

Vụ học sinh cấp 2 chửi bới đốt xe: Xử lý như thế nào?
Hành vi chửi bới, đốt xe cản trở người thi hành công vụ tùy vào tính chất và mức độ nguy hiểm có thể bị xử lý vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.

 Mới đây, như thông tin đã đưa, Ngày 21/5 đội CSGT huyện Đắk Mil đang làm nhiệm vụ thì phát hiện một thanh niên điều khiển xe máy không đội mũ bảo hiểm, xe có dấu hiệu chế độ nên đã ra hiệu lệnh dừng xe kiểm tra vi phạm. Tuy nhiên, khi bị kiểm tra, nam thanh niên đang là học sinh cấp 2 này không xuất trình được giấy tờ xe nên lực lượng CSGT tiến hành xử lý theo quy định của pháp luật. Sau khi bị bắt thì xin xỏ, xin xỏ không được thì dùng lời lẽ thiếu văn hóa rồi chống đối bằng cách châm lửa đốt xe.

đốt xe

Nam thanh niên (áo trắng đen) bị CSGT kiểm tra vì điều khiển xe máy không đội mũ bảo hiểm. Ảnh: Dân Trí

Về những hành vi này, theo ý của , thanh niên này có thể sẽ bị xử lý như sau:

Thứ nhất, xử phạt khi lái xe chưa đủ tuổi, chưa có bằng lái và mượn xe của người khác

Luật Giao Thông đường bộ 2008 có quy định về điều kiện của người lái xe tham gia giao thông, theo đó người lái xe tham gia giao thông phải đủ độ tuổi, theo quy định Điều 58, Điều 60 Luật này và có giấy phép lái xe phù hợp với loại xe được phép điều khiển do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp.

Độ tuổi của người lái xe theo quy định tại Điều 60 Luật Giao thông đường bộ 2008 được quy định như sau:

a) Người đủ 16 tuổi trở lên được lái xe gắn máy có dung tích xi-lanh dưới 50 cm3;
b) Người đủ 18 tuổi trở lên được lái xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh có dung tích xi-lanh từ 50 cm3 trở lên và các loại xe có kết cấu tương tự; xe ô tô tải, máy kéo có trọng tải dưới 3.500 kg; xe ô tô chở người đến 9 chỗ ngồi;

Theo quy định trên, đối với xe mô tô, người điều khiển xe mô tô phải đủ 18 tuổi trở lên mới được phép điều khiển xe tham gia giao thông.

Như vậy, trường hợp người dưới 16 tuổi điều khiển xe mô tô tham gia giao thông là vi phạm Pháp luật về Giao thông đường bộ với lỗi vi phạm điều kiện về độ tuổi được điều khiển xe tham gia giao thông (đồng nghĩa việc chưa được cấp giấy phép lái xe ) và phải chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm của mình.

Theo Điều 21 Nghị định 46/2016/NĐ-CP về xử phạt các hành vi vi phạm quy định về điều kiện của người điều khiển xe cơ giới: 
1. Phạt cảnh cáo người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi điều khiển xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự xe mô tô hoặc điều khiển xe ô tô, máy kéo và các loại xe tương tự xe ô tô.
...
4. Phạt tiền từ 400.000 đồng đến 600.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:
a) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi điều khiển xe mô tô có dung tích xi lanh từ 50 cm3 trở lên;
...
5. Phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.200.000 đồng đối với người điều khiển xe mô tô có dung tích xi lanh dưới 175 cm3 và các loại xe tương tự xe mô tô thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:
a) Không có Giấy phép lái xe hoặc sử dụng Giấy phép lái xe không do cơ quan có thẩm quyền cấp, Giấy phép lái xe bị tẩy xóa;
b) Có Giấy phép lái xe quốc tế do các nước tham gia Công ước về Giao thông đường bộ năm 1968 cấp (trừ Giấy phép lái xe quốc tế do Việt Nam cấp) nhưng không mang theo Giấy phép lái xe quốc gia.
7. Phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với người điều khiển xe mô tô có dung tích xi lanh từ 175 cm3 trở lên, xe ô tô, máy kéo và các loại xe tương tự xe ô tô vi phạm một trong các hành vi sau đây:
a) Có Giấy phép lái xe nhưng không phù hợp với loại xe đang điều khiển hoặc đã hết hạn sử dụng từ 06 (sáu) tháng trở lên;
b) Không có Giấy phép lái xe hoặc sử dụng Giấy phép lái xe không do cơ quan có thẩm quyền cấp, Giấy phép lái xe bị tẩy xóa;
Việc xử phạt đối với hành vi điều khiển xe mô tô không có giấy phép lái xe như sau:

•    Dưới 16 tuổi thì sẽ không bị phạt tiền mà chỉ bị phạt cảnh cáo, cảnh cáo bằng văn bản và ra Quyết định xử phạt;

•    Từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị phạt 500.000 đồng.

•    Đủ 18 tuổi thì bị phạt 1.000.000 đồng;

Thứ hai, hành vi chống đối bằng việc đốt xe, lăng mạ người thi hành công vụ

Người nào có hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác cản trở người thi hành công cụ thực hiện công việc của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật thì có thể bị khép vào tội chống người thi hành công vụ. Tội này có cấu thành hình thức, hậu quả xảy ra không phải là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành của tội này. Tội phạm hoàn thành kể từ thời điểm người phạm tội thực hiện hành vi chống đối, kháng cự hoặc cưỡng ép người thi hành công vụ thực hiện hoặc không thực hiện một hành vi trái pháp luật. Điều 257 BLHS 1999 sửa đổi bổ sụng 2009 quy định về tội chống người thi hành công vụ như sau:

“Điều 257. Tội chống người thi hành công vụ

1. Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc  họ thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ  sáu tháng  đến  ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy  năm :

a)  Có tổ chức;
b) Phạm tội nhiều lần;
c) Xúi giục, lôi kéo, kích động  người khác phạm tội;
d) Gây hậu quả nghiêm trọng;
đ) Tái phạm nguy hiểm.”

Bên cạnh đó, khoản 3 Điều 7 nghị định  73/2010/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự, an toàn thì hành vi cản trở, không chấp hành yêu cầu của người thi hành công vụ mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm thì có thể bị phạt tiền từ 1 triệu tới 2 triệu đồng.

“3. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Cản trở, không chấp hành yêu cầu của người thi hành công vụ hoặc có lời nói, hành động lăng mạ, xúc phạm danh sự hoặc chống lại người thi hành công vụ mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;”

Như vậy, trong trường hợp này, nam thanh niên đã cản trở thực hiện nhiệm vụ của mình, sau đó còn có hành vi đốt xe máy. Vì vậy, thanh niên này có hành vi chống người thi hành công vụ. Tuy nhiên, nam thanh niên này mới chỉ là học sinh cấp 2 và hành vi gây ra không phải là đặc biệt nguy hiểm nên có thể sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự (nếu đã đủ 14 tuổi). Tùy vào tính chất, mức độ nguy hiểm của từng hành vi cụ thể mà có thể bị xử phạt hành chính hoặc thông báo với gia đình nhà trường để có biện pháp giáo dục. 

PV
 

Liên hệ cung cấp thông tin và gửi tin bài cộng tác

Đường dây nóng: 0869655316

Email: truyenthongvaphapluatvn@gmail.com

4.4 23 5 Nhấn vào đây để đánh giá
Logo PhapLuatNet Xác thực thông tin của bạn để gửi bình luận
Họ tên
Email
 
0.29247 sec| 1823.57 kb